1 The Marketplace Model – Sàn giao dịch Thương Mại điện tử
eBay là người thay mặt tiêu biểu cho mô hình này. Mô hình sàn Thương Mại điện tử Marketplace xuất hiện cung cấp cho cả bên bán lẫn bên mua các cơ hội tiếp cận dễ dàng và an toàn trên cơ sở kế thừa ưu điểm và khắc phục điểm yếu của các mô hình Thương Mại điện tử sẵn có.

Xuất phát điểm của eBay là một website đấu giá. Tuy nhiên, nghiên cứu của Cục Nghiên cứu Kinh tế quốc gia của Mỹ đã chia sẻ có chưa đến 15% những loại hàng hóa niêm yết. Thay vào đó, hầu hết hàng hóa là để người tiêu dùng “thêm vào giỏ hàng” – giống như vậy như Amazon và những trang TM trực tuyến khác, theo AP.
Tờ này báo cáo giải trình, người dùng Internet ngày càng thích lên những diễn đàn mua sắm, nơi mọi nội dung đều do người tiêu dùng tạo ra, và chính người dùng hoàn toàn có thể thảo luận, mặc cả thậm chí mua bán mà không cần đến người môi giới.
những đại diện chiến thắng của mô hình này còn có Alibaba, Priceline…
2. Free Model – Mô hình kinh doanh miễn phí
Trong môi trường công nghệ và Internet, chúng ta dễ dàng bắt gặp những doanh nghiệp áp dụng triệt để mô hình kinh doanh miễn phí, như Facebook, Google. Dù là miễn phí nhưng cả hai đều đã và đang là một trong các công ty có giá trị thị trường lớn nhất thế giới – lên đến hàng trăm tỷ đôla.

Miễn phí cũng là 1 mô hình kinh doanh, trong đó ít nhất một phân khúc thị trường người khách đông đảo có thể hưởng lợi từ 1 sản phẩm/dịch vụ miễn phí một cách liên tục, được tài trợ bởi 1 thành phần khác trong mô hình kinh doanh hay 1 phân khúc thị trường người khách khác như thu phí từ những công cụ nâng cao hay đơn giản chỉ từ những quảng cáo.
3. The Hyper Market – Mô hình kinh doanh đại siêu thị
mở đầu bằng sách online nhưng hiện tại sách chỉ là 1 phân khúc sản phẩm nhỏ chiếm 1 phần rất nhỏ trong ghi nhận doanh thu của Amazon. Nhưng hãng này là nổi bật của mô hình Đại siêu thị.
Trong khi các doanh nghiệp còn đang lơ ngơ trước một thị trường Internet mới mẻ và triển vọng, Bezos – sáng lập Amazon, đã nhìn ra cơ hội và thách thức các hiệu sách truyền thống bằng việc mở ra doanh nghiệp bán sách online đầu tiên trên thế giới. Bezos mua 1 nhà kho lớn có thể chứa được nhiều sách hơn bất cứ hiệu sách truyền thống nào.

Với việc trả tiền cho các nhà cung cấp sau, cùng với việc cho phép người dùng nhận xét và đánh giá về những sản phẩm online, Amazon đã nhanh chóng lôi cuốn được một lượng người khách trung thành và ưa thích dịch vụ của doanh nghiệp.
Tại sao gọi là “siêu cửa hàng”? Bởi Amazon đã sử dụng vũ khí tối thượng của nhà kinh doanh online khổng lồ: dữ liệu, dữ liệu lớn, và chuyển lượng dữ liệu rất lớn này thành 1 loại dữ liệu thông minh, có xúc cảm, đem đến giá trị ngày càng tăng cho người khách của mình.
Đây chính là điều sẽ làm thay đổi vĩnh viễn bộ mặt của Thương Mại toàn cầu: Sử dụng dữ liệu về khách hàng để hiểu và lôi kéo người khách trong đời thực. Amazon đã tạo nên những xu hướng lớn trong lịch sử kinh tế.
4. The Freemium Model – Miễn phí kết hợp cao cấp
Freemium là 1 mô hình kinh doanh hoạt động dựa trên việc cung cấp miễn phí những dịch vụ/sản phẩm với những chức năng cơ bản nhưng thu phí nếu người sử dụng muốn dùng các chức năng cao cấp hơn (premium) của dịch vụ/sản phẩm.
Freemium là một từ ghép được tạo ra bởi: Free + Premium (tạm dịch: Miễn phí và Chất lượng cao). Khái niệm Freemium được nhắc tới đầu tiên bởi Fred Wilson cách đây hơn 10 năm – ngày 23/3/2006.

những ví dụ cho mô hình Freemium chiến thắng là Skype được cho phép sử dụng dịch vụ thoại miễn phí đối với các người sử dụng application (với chất lượng khá tốt) và thu tiền đối với các dịch vụ Premium (Voice over Internet); Flickr cho phép upload ảnh miễn phí với số lượng tối đa là 200 tấm ảnh và dung lượng không quá 20 MB/tháng.
Nếu nâng cấp lên Pro, người sử dụng rất có thể upload ảnh không giới hạn về băng thông và dung lượng hoặc SurveyMonkey, trang web chuyên cung cấp tính năng thiết kế bảng câu hỏi khảo sát trực tuyến miễn phí cho người tiêu dùng.
5. The on Demand model – Mô hình theo yêu cầu
Thuật ngữ mới để gọi hiện tượng này là “kinh tế chia sẻ” (sharing economy), hoặc kinh tế theo yêu cầu (on demand economy) đang tạo nên một nền kinh tế thị trường mới của thế giới. Đây là cụm từ khá phổ thông thời điểm hiện tại. Nó dùng để chỉ các dịch vụ như Uber (ứng dụng gọi xe taxi) hoặc Airbnb (dịch vụ đặt phòng online toàn cầu).
nền kinh tế thị trường theo yêu cầu hình thành theo xu thế lực lượng lao động ngày càng gắn kết với điện thoại di động thông minh, mà hiện cung cấp năng lực chuyên môn tính toán cao hơn nhiều so với những máy tính để bàn đã định hình lại những công ty trong những năm 1990. Kết hợp với dữ liệu lớn (Big data) và sức mạnh của điện toán đám mây, smartphone luôn bên mình sẵn sàng trả lời cho người tiêu dùng mọi vấn đề về công việc mà ngày trước được xử lý theo cấu trúc của các công ty.

Khái niệm “nền kinh tế chia sẻ” mở màn phổ thông từ năm 2014. Tuy nhiên, đến nay, ngày càng xuất hiện nhiều ý kiến phản đối sử dụng khái niệm này và cho rằng nó chỉ là công cụ đánh bóng tên tuổi của các doanh nghiệp như Uber hay Airbnb. Bởi vì, từ “chia sẻ” để truyền tải sự vị tha chứ không phải hàm ý về nhu cầu kinh doanh bình thường.
chính vì thế, truyền thông thế giới gần đây đã sử dụng cụm từ thay thế là “gig economy” (chỉ những Hợp Đồng cho thuê ngắn hạn). Hay một số cụm từ khác cũng được sử dụng như “nền kinh tế cho thuê” (rental economy) hay “nền kinh tế 1099” (chỉ những hình thức thuế). Tuy nhiên, các công ty như Airbnb là liên quan nhiều đến những Hợp Đồng thuê chứ không phải thoả thuận lương.
VietnamBiz tổng hợp các thông tin, bài viết về mô hình kinh doanh hiệu quả tại Việt Nam và Thế giới
Nhận xét
Đăng nhận xét